Nguyễn Phúc Bửu Lân

Học thuật
Thân thiện
Nguyễn Phúc Bửu Lân

Ông Nguyễn Phúc Bửu Lân mặc long bào ngồi trên ngai vàng.

Định nghĩa
  1. Danh từ riêng:
    • Tên húy của vị vua thứ 10 triều Nguyễn: Đây tên gọi đầy đủ của một nhân vật lịch sử Việt Nam, sau này lên ngôi vua lấy hiệu Thành Thái.
    • Một nhân vật lịch sử thuộc hoàng tộc nhà Nguyễn: Chỉ con trai của vua Dục Đức, cháu nội vua Tự Đức, người tư tưởng duy tân yêu nước.
dụ sử dụng
  • Danh từ riêng:
    • Nguyễn Phúc Bửu Lân lên ngôi vào cuối năm 1889.
    • Cuộc đời của Nguyễn Phúc Bửu Lân phản ánh một giai đoạn bi thương của lịch sử phong kiến Việt Nam dưới ách đô hộ của thực dân Pháp.
Các cách sử dụng nâng cao
  • "Vua Thành Thái, tức Nguyễn Phúc Bửu Lân": Cách giới thiệu phổ biến trong sử sách, liên kết tên húy với niên hiệu của nhà vua.

    • Vua Thành Thái, tức Nguyễn Phúc Bửu Lân, một vị vua tư tưởng canh tân đất nước.
  • "Hoàng tử Bửu Lân": Cách gọi trước khi ông đăng quang.

    • Sau khi vua Đồng Khánh băng hà, hoàng tử Bửu Lân được đưa lên kế vị.
Biến thể từ liên quan
  • Thành Thái: Niên hiệu của vua Nguyễn Phúc Bửu Lân, thường dùng để chỉ vị vua này trong chính sử.
  • Dục Đức: Thụy hiệu của vua cha ông.
  • Vĩnh San (vua Duy Tân): Tên húy của con trai ông, người kế vị sau khi ông bị phế truất.
Từ đồng nghĩa / Cách gọi khác
  • Vua Thành Thái: Cách gọi phổ biến nhất, dùng niên hiệu.
  • Hoàng đế Thành Thái: Cách gọi trang trọng.
Thông tin lịch sử liên quan
  • Bối cảnh lên ngôi: Ông được đưa lên ngôi năm 1889 sau khi vua Đồng Khánh mất, trong bối cảnh thực dân Pháp khống chế triều đình Huế.
  • Tính cách hành động: Được mô tả thông minh, tinh thần duy tân yêu nước. Ông nhiều hành động bất thường, thậm chí chống đối người Pháp, xuất phát từ sự bất mãn khi quyền lực bị thu hẹp.
  • Kết cục: Bị thực dân Pháp lấy cớ mắc bệnh tâm thần để buộc thoái vị năm 1907, sau đó bị lưu đày sang đảo Réunion (Châu Phi). Mãi đến sau năm 1945 ông mới được trở về Việt Nam qua đời tại Sài Gòn năm 1954.
Nguyễn Phúc Bửu Lân

Ông Nguyễn Phúc Bửu Lân mặc long bào ngồi trên ngai vàng.

  1. (Kỉ mão 1879 - Giáp ngọ 1954)
  2. Vua thứ 10 triều Nguyễn, tức vua Thành Thái, con vua Dục Đức, mẹ Phan Thị Điêu (tức Từ Minh Huệ hoàng hậu), cháu ngoại Phụ chánh đại thần Phan Đình Bình (X. Phan Đình Bình)
  3. Ông sinh ngày 22-2 năm Tự Đức 32 (1879). Khi vua Dục Đức còn sống ông theo chatại Thái Y viện giảng đường (Huế), đến lúc vua Dục Đức bị thảm sát ông theo mẹ về sốngquê ngoạihuyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên
  4. Năm Mậu 1888 tình hình Huế tạm lắng dịu, ông theo mẹ về sốngthành nội (Huế) lo việc hương khói tại nhà thờ vua cha. Năm này vua Đồng Khánh chết, ông được triều thần đưa lên làm vua nhằm ngày mùng một Tết ta (31-12-1889) lấy hiệu năm Thành Thái nên cũng gọi là Thành Thái. Sau khi lên ngôi, ông hãy còn nhỏ tuổi, được các quan đại thần Trinh, Đinh Nho Quang, Tạ Thúc Đĩnh...thay nhau dạy ông
  5. Theo sử chép cùng nhân dân truyền miệng, ông được làm vua do công của Diệp Văn Cương một phần (X.Diệp Văn Cương). Nguyên khi vua Đồng Khánh chết, lúc ấy Diệp Văn Cương làm việc tại toà Khâm (Bí thư kiêm thông dịch viên cho khâm sứ Huế). Các quan triều đến hỏi ý kiến Khâm sứ Pháp về việc chọn người kế vị vua mới mất, nhân đó Diệp Văn Cương lại dịch ý triều đình muốn tôn Hoàng tử Bửu Lân lên ngôi vua ( Diệp Văn Cương chồng Công nữ Thiện Niệm- ruột Hoàng tử Bửu Lân). Khâm sứ Pháp chấp nhận ý kiến đó, nên ông trở thành vua thứ 10 triều Nguyễn. Khi ông làm vua được Nguyễn Trọng Hợp, Trương Quang Đán làm phụ chính đại thần (sau Trương Như Cương thay Nguyễn Trọng Hợp Cương tay chân của Pháp con gái tiến cung)
  6. Vua Thành Thái thông minh óc duy tân, tinh thần yêu nước, nhưng lúc bấy giờ mọi quyền lực nhà nước đềutrong tay Pháp. Thêm vào đó một số đại thần tay sai của thực dân, nên càng lúc quyền vua bị thu hẹp dần. Do đó ông lấy làm khó chịu, nhiều hành động khác thường đôi khi chống Pháp công khai. lần ông tìm cách vượt biên sang Trung Quốc, nhưng vừa đến Thanh Hóa bị Pháp giữ lại
  7. Năm 1907, thực dân lấy cớ ông bệnh tâm thần, chúng toa rập với một số quan tay sai buộc ông thoái vị (trong việc này vai trò của Trương Như Cương quyết định vuacạnh vua), đem đi an tríVũng Tàu rồi lưu đày sang đảo Réunion (Châu Phi thuộc Pháp). Sau Cách mạng tháng Tám (1947) ông mới được trở về nước, nhưng phải biệt Sài Gòn. Sau mấy chục năm bị lưu đày xa quê hương, năm 1951 ông mới được phép về Huế thăm quê hương thân tộc, nhưng phải sốngSài Gòn
  8. Ngày 24-3-1954 (Giáp ngọ) ông mất, hưởng dương 75 tuổi, thi hài an táng tại Huế
  9. Con ông Thái tử Nguyễn Phúc Vĩnh San, được Pháp đưa lên kế vị sau khi chúng buộc ông bỏ ngôi (1908). Sau Vĩnh San trở thành nhà vua yêu nước (X. Nguyễn Phúc Vĩnh San - tức vua Duy Tân) với cuộc khởi nghĩa chống Pháp năm 1916